| This place was deleted, it will be removed from all search engines in few weeks. A
This place needs an english description, make it.
place comments:
|
20 months ago saigon4eva |
|
-3 |


|
Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn (1940-1975)
Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã anh dũng chiến đấu tới cùng và không chịu đầu hàng giặc. Ðại Tá Cẩn đã bị quân Cộng Sản đem ra xử trước công cộng và sau đó bị xử bắn tại chỗ. Vài nét về một anh hùng: Đại-tá Hồ Ngọc-Cẩn.
Đại-tá Hồ Ngọc-Cẩn sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938, tại Cần-thơ. Thân phụ là một hạ sĩ quan trong quân đội Quốc-gia Việt-Nam. Thủa nhỏ ông rất khỏe mạnh, không hề bị bệnh tật gì. Năm 10 tuổi ông bị bệnh quai bị, cả hai bên. Tính tình hiền hậu, giản dị, trầm tư, ít nói. Khi ông bắt đầu đi học (1945) thì chiến tranh Pháp-Việt bùng nổ, nên sự học bị gián đoạn. Mãi đến năm 1947 ông mới được đi học lại. Ông học không lấy gì làm giỏi cho lắm, thường thì chỉ đứng trung bình trong lớp. Năm 1951, phụ thân nộp đơn xin cho ông nhập học trường Thiếu-sinh-quân.
Thời điểm này, trên toàn lãnh thổ VN có 7 trường TSQ, phân phối như sau:
_ Trường TSQ đệ nhất quân khu, ở Gia-định. _ Trường TSQ đệ nhị quân khu ở Huế. _ Trường TSQ đệ tam quân khu ở Hà-nội. _ Trường TSQ Móng- cáy dành cho sắc dân Nùng. _ Trường TSQ đệ tứ quân khu ở Ban-mê-thuột. _ Trường TSQ Đà-lạt của quân đội Pháp. _ Trường TSQ Đông-Dương của quân đội Pháp, ở Vũng-tầu.
Hồ Ngọc Cẩn được thu nhận vào lớp nhì trường TSQ đệ nhất quân khu niên khóa 1951-1952. Trường này dạy theo chương trình Pháp. Ông đỗ tiểu học năm 1952. Cuối năm 1952, trường TSQ đệ nhất quân khu di chuyển từ Gia-định về Mỹ-tho.
Khi hiệp định Genève ký ngày 20-7-1954, thì ngày 19 tháng 8 năm 1954, trường TSQ đệ tam quân khu di chuyển từ Hà-nội vào, sát nhập với trường TSQ đệ nhất quân khu ở Mỹ-tho. Niên học 1954-1955, trường TSQ đệ nhất quân quân khu bắt đầu dạy chương trình Việt, và chỉ mở tới lớp đệ ngũ. Hồ Ngọc-Cẩn học lớp đệ lục A, giáo sư dạy Việt-văn là ông Nguyễn Hưũ-Hùng, từ Bắc di cư vào. Thực là một điều lạ, là giữa một số bạn học chương trình Việt từ Bắc vào, mà Hồ Ngọc-Cẩn lại tỏ ra xuất sắc về môn Việt-văn. Trong năm học, có chín kỳ luận văn, thì bài của Cẩn được tuyển chọn là bài xuất sắc, đọc cho cả lớp nghe bảy kỳ. Nhưng bài của Cẩn chỉ đứng thứ nhì trong lớp mà thôi. Năm này Cẩn bắt đầu làm thơ. Thơ của Cẩn không có hùng khí, đa số những bài thơ này cực kỳ lãng mạn. Hết năm học, Cẩn đã 17 tuổi. Theo học quy của trường TSQ, thì khi một học sinh mười bẩy tuổi, mà chưa học hết đệ ngũ, sẽ được gửi đi học chuyên môn. Còn như mười bẩy tuổi, mà học hết đệ ngũ, lại tỏ ra xuất sắc thì được giữ lại học đệ tứ, rồi... cho học lên cao nữa. Niên khóa 1955-1956, Hồ Ngọc-Cẩn được gửi lên học tại Liên-trường võ khoa Thủ-đức, về vũ khí. Sau ba tháng, Cẩn đậu chứng chỉ chuyên môn về vũ khí bậc nhất với hạng ưu. Sáu tháng sau đó, Cẩn lại đậu chứng chỉ bậc nhì, và bắt đầu ký đăng vào quân đội với cấp bậc binh nhì.
Quy chế dành cho các TSQ Việt-Nam thời ấy là quy chế dành cho các TSQ Pháp trong thời bình. Một học sinh ra trường, thì ba tháng đầu với cấp bậc binh nhì, ba tháng sau với cấp bậc hạ sĩ, ba tháng sau thăng hạ sĩ nhất, và ba tháng sau nữa thăng trung sĩ. Chín tháng sau Cẩn là trung sĩ huấn luyện viên về vũ khí.
Chiến tranh tại miền Nam VN tái phát vào năm 1960 tại một vài vùng. Sang năm 1961 thì lan rộng. Để giải quyết nhu cầu thiếu sĩ quan, bộ Quốc-phòng cho mở các khóa sĩ quan đặc biệt. Được nhập học trường này, tất cả các hạ sĩ quan có trên năm năm công vụ, có bằng Trung-học đệ nhất cấp. Với sự nâng đỡ đặc biệt của đại tướng Lê Văn-Tỵ Tổng-tham mưu trưởng, nguyên là một cựu TSQ, các hạ sĩ quan xuất thân từ trường TSQ, không cần phải hội đủ trình độ học vấn, cũng như thâm niên công vụ, đều được nhập học.
Nào ai ngờ, với sự nâng đỡ đặc biệt này, đã cung cấp cho đất nước VN không biết bao nhiêu sĩ quan gương mẫu, anh hùng trên chiến trường.
Hồ Ngọc-Cẩn tốt nghiệp khóa 2 ( ?) sĩ quan đặc biệt với cấp bậc chuẩn úy. Dường như có một mật lệnh của Tổng-thống Ngô Đình-Diệm hay đại tướng Lê Văn-Tỵ, các tân chuẩn úy, xuất thân từ trường TSQ, đều được đưa về phục vụ tại các binh chủng : Dù, Thủy-quân lục chiến (TQLC) , Biệt-động quân (BĐQ), Quân-báo, An-ninh quân đội, và Lực-lượng đặc biệt (LLĐB).
Sau khi ra trường, Hồ Ngọc-Cẩn theo học một khóa huấn luyện BĐQ, rồi thuyên chuyển về phục vụ tại khu 42 chiến thuật, với chức vụ khiêm tốn là trung đội trưởng. Lãnh thổ khu này gồm các tỉnh Cần-thơ (Phong-dinh), Chương-thiện, Sóc-trăng (Ba-xuyên), Bặc-liêu, Cà-mâu (An-xuyên). Về sau, vì tình hình chiến tranh thay đổi, quân Cộng-sản từ du kích chiến, chuyển sang đánh cấp tiểu đoàn và trung đoàn, các đại đội BĐQ cũng phải kết hợp thành tiểu đoàn. Các đại đội BĐQ của khu 42 chiến thuật kết thành hai tiểu đoàn. Tiểu đoàn mang số 42, đơn vị mà Cẩn phục vụ, được tặng mỹ danh là tiểu đoàn Cọp ba đầu rằn. Tiểu đoàn mang số 44 được tặng mỹ danh là Cọp xám U-minh hạ.
Trung Sĩ Vũ Tiến Quang
(30-9-1956 - 30-4-1975)
Trung Sĩ Vũ Tiến Quang sinh ngày 30 thánh 9 năm 1956 tại Kiên Hưng, tỉnh Chương Thiện. Thọ 19 tuổi. Ông đã cùng Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã anh dũng chiến đấu tới cùng và không chịu đầu hàng giặc. Trung Sĩ Vũ Tiến Quang và Đại-tá Hồ Ngọc Cẩn đã bị quân Cộng Sản đem ra xử trước công cộng và sau đó bị xử bắn tại chỗ. Đọc tiếp về tiểu sử Trung Sĩ Vũ Tiến Quang. |
|
|
19 months ago saigon4eva |
|
-2 |


|
Hôm nay 30 tháng 4, cách đây đúng 32 năm ngày này là ngày đen tối nhất trong lịch sử Việt Nam cận đại, một ngày thống nhất đất nước nhưng mang lại chia lìa, đau thương, tang tóc cho dân Việt, một ngày bắt đầu đem nước Việt xuống tận bùn đen. Để tưởng niệm ngày đau buồn này, hôm nay tôi xin đốt nén nhang lòng để tưởng nhớ tới những người đã bỏ mạng trong suốt cuộc chiến vừa qua của cả hai bên quốc cộng, và những đồng bào ruột thịt của tôi đã bỏ mình trên đường tìm tự do. Tôi cũng xin cầu nguyện những điều tốt lành cho những nhà đấu tranh dân chủ trong nước đang bị nhà cầm quyền đàn áp dã man, và tôi cũng không quên cầu nguyện cho quê hương tôi không còn bóng cộng phỉ. |
|
|
19 months ago tripplex |
|
-2 |


|
32 năm rồi, sao cộng sản vẫn cứ đố kỵ người dân?
Vũ Quí Hạo Nhiên
Trong lịch sử ngắn ngủi từ khi thành lập, đảng Cộng Sản Việt Nam bỏ ra 24 năm đánh Pháp, 19 năm đánh Mỹ và “ngụy”, rồi lại gây hấn với Cambodia, Trung Quốc. Ðến nay, Cộng Sản đã khép lại quá khứ được với Pháp, với Mỹ, với Cambodia, với cả Trung Quốc nữa. Thế nhưng tại sao Cộng Sản lại không khép lại quá khứ với những người Việt Nam không cộng sản, mà lại cứ đố kỵ họ mãi mãi?
Ðó là câu hỏi lởn vởn trong đầu tôi, lởn vởn từ lâu lắm rồi, chứ không phải chỉ mới đây, khi ông Xuân Hồng đài BBC phỏng vấn cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt, một nhân vật có uy tín trong đảng Cộng Sản, và ông Kiệt đặt câu hỏi: Sao “chúng ta” lại “cứ đố kỵ lẫn nhau”?
Tôi không hề thấy “chúng ta” nào đi “đố kỵ lẫn nhau” ở đâu cả. Nói “lẫn nhau” là nói sự đố kỵ qua lại hai chiều, trong khi tôi chỉ thấy có sự đố kỵ theo một chiều: Tôi chỉ thấy đảng Cộng Sản đố kỵ người dân Việt Nam.
Không có “chúng ta” nào đi chiếm đoạt đất đai “lẫn nhau” ở Việt Nam. Nhưng có hàng mấy trăm vụ viên chức đảng viên Cộng Sản, nhiều khi móc nối với tư bản nước ngoài, cướp đoạt đất đai của dân (chẳng phải “ngụy” chẳng phải “Việt gian,” chỉ đơn thuần là “dân”). Người dân phải ngồi dưới mưa, dưới nắng, chầu chực hàng tuần, hàng tháng bên ngoài những “Phòng Tiếp Dân” ở các tỉnh thành, trong đó khu vườn hoa Mai Xuân Thưởng ở Hà Nội và khu Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố tại Sài Gòn chỉ là một phần. Ðối xử với đồng bào mà như cỏ rác, gọi là “đố kỵ” thì vẫn là dễ dãi.
Không có “chúng ta” nào làm khó dễ “lẫn nhau” khi muốn làm ăn lương thiện, muốn lập công ty, muốn đóng tiền thuế, muốn được hành nghề của mình. Nhưng có trùng trùng điệp điệp các cơ quan “quản lý” để cấm đoán, để hạch sách, để người dân phải đi tới đi lui đi lên đi xuống nghe những nhà cầm quyền cấp thấp nhất bắt bẻ đủ điều. Cai trị đồng bào mà tệ hơn thực dân, gọi là “đố kỵ” thì vẫn là dễ dãi.
Không có “chúng ta” nào phân chia giai cấp “lẫn nhau”. Nhưng có một hệ thống kinh tế - chính trị trong đó đảng viên và con cái của họ thì được mọi đặc quyền đặc lợi, tha hồ tham nhũng lạm quyền rồi được che chở, tung hoành như những ông vua con, trong khi người thường dân thì bị chèn ép, chức vụ sự nghiệp bị giới hạn, ngành nghề cũng khó khăn, làm việc này thì được, việc kia thì không. Ðối xử với đồng bào mà thua đầy tớ, gọi là “đố kỵ” thì vẫn là dễ dãi.
Không có “chúng ta” nào cấm đoán “lẫn nhau” không được nói, không được viết, không được in, không được phân phát, không được bày tỏ ý kiến của mình. Mà lại có hẳn một Ban Tư Tưởng Văn Hóa trung ương và địa phương, có các bộ, sở, phòng, ban, ngành, và tầng tầng lớp lớp các luật, nghị định, quyết định, cấm nghĩ, cấm nói, cấm viết, cấm in, cấm “chat” trên internet. Xem dân như người ngu, không được tự suy nghĩ, gọi là “đố kỵ” thì vẫn là dễ dãi.
Chưa kể đến người người lớp lớp đội ngũ công an, an ninh rình rập, bắt bớ, chụp mũ, bịt miệng những người dám nghĩ khác, nói khác, viết khác với ý của đảng cầm quyền. Canh dân như canh tù, gọi là “đố kỵ” thì vẫn là dễ dãi.
Ðó là đối với người trong nước. Còn với người Việt Nam ở hải ngoại thì sao?
Hàng năm, người Việt Nam ở hải ngoại chuyển tiền về, qua trung gian hệ thống ngân hàng của nhà nước, hơn 2 tỷ đô la tiền mồ hôi nước mắt kiếm được. Như thế không thể nói là người ta đố kỵ.
Tại Mỹ, du học sinh qua học, trong đó có không ít du học sinh là con em các đảng viên trung cấp, cao cấp, ở trọ trong nhà những gia đình từng là nạn nhân cộng sản, hoặc được bao che để làm việc (trái luật di trú) trong các nhà hàng, cửa tiệm của những người từng là nạn nhân chế độ. Như thế không thể nói là người ta đố kỵ.
Hàng năm, người Việt Nam ở hải ngoại về qua hai cửa khẩu Nội Bài và Tân Sơn Nhất hơn 3 triệu lượt người. Trong số những người về Việt Nam, có rất nhiều người từng bị giam giữ nhiều năm trong trại tù cải tạo, từng gian khổ vượt biên, từng bị hải tặc, từng có thân nhân thiệt mạng. Nay người ta vẫn đi về Việt Nam, thăm họ hàng bạn bè, du lịch, làm việc thiện nguyện trong khắp ba miền Nam Trung Bắc. Như thế không thể nói là người ta đố kỵ.
Nhưng khi người ta có một tấm bia tưởng niệm nho nhỏ, đặt tại hai hòn đảo hoang sơ bên Malaysia và Indonesia, hai đảo chỉ có giá trị tình cảm với người vượt biên, chứ chẳng đụng chạm gì tới chính quyền Việt Nam, vậy mà củng cố gắng vói tới đó cho bằng được để áp lực chính quyền đục lỗ đập bỏ bia tưởng niệm. Làm như thế còn tệ hơn “đố kỵ” rất nhiều lần.
Nên nói rằng không có việc gì mà “chúng ta” phải “đố kỵ nhau” mãi mãi là một câu nói quá dễ, nhưng tôi muốn nhắc ông Võ Văn Kiệt rằng người đang đố kỵ không phải là người Việt Nam nói chung, không phải người Việt Nam ở hải ngoại, lại càng không phải những nhà đấu tranh cho dân chủ đang bị bịt miệng cầm tù.
Không, người mà hiện đang đố kỵ đồng bào của mình chính là những bạn đồng chí trong cùng đảng với ông Kiệt.
Người cộng sản hiện đang nắm quyền trong tay, đồng thời khẳng định sẽ mãi mãi nắm quyền trong tay, mà lại đi đố kỵ người ta, đó mới là sự đố kỵ nguy hiểm. Tôi hy vọng người cộng sản sẽ nghe lời ông Kiệt mà ngưng những hành động đố kỵ (và nặng hơn thế!) của họ. |
|
|
19 months ago xxx |
|
-3 |


|
Luật sư Trần Quốc Hiền bị tuyên án 5 năm tù giam và hai năm quản chế 2007.05.15 Gia Minh, phóng viên đài RFA
Tiếp theo những phiên xử các nhà đối kháng vào hai ngày 10 và 11 vừa qua tại Tp Hồ Chí Minh và Hà Nội, hôm nay Toà án Nhân Dân thành phố Hồ Chí Minh mở phiên xử đối với một nhân vật bất đồng chính kíến khác nữa là luật sư Trần Quốc Hiền. Gia Minh trình bày thông tin liên quan trong phần sau.
Phiên xử hôm nay tại Toà án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là phiên thứ ba trong vòng không đầy một tuần lễ mà cơ quan chức năng Việt Nam tổ chức để xét xử sáu nhà bất đồng chính kiến, theo điều 88 Bộ luật hình sự Việt Nam là những người này tuyên truyền chống nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghiã Việt Nam. Những cáo buộc
Bị can tại phiên toà hôm nay là luật sư Trần Quốc Hiền, 42 tuổi, ngoài tội danh tuyên truyền chống nhà nước như vừa nêu còn bị buộc thêm tội phá rối an ninh.
Kết thúc phiên xử kéo dài chừng 4 tiếng đồng hồ, chánh án Vũ Phi Long tuyên án luật sư Trần Quốc Hiền 5 năm tù giam và hai năm quản chế.
Cáo trạng được tuyên đọc tại toà cho rằng luật sư Trần Quốc Hiền đã âm mưu tổ chức những cuộc biểu tình chống chính phủ tại thành phố Hồ Chí Minh hồi năm ngoái khi Việt Nam đăng cai tổ chức hội nghị Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Á châu Thái Bình Dương, gọi tằt là APEC.
Ngoài ra, luật sư Hiền còn bị cáo buộc tham gia Khối 8406, đây là nhóm đưa ra tuyên ngôn dân chủ nhân quyền đòi hỏi những quyền căn bản cho người dân trong nước, và đa nguyên đa đảng tại Việt Nam.
Một thành viên của ban điều hành Khối 8406, linh mục Phan Văn Lợi đưa ra nhận định về bản án mà toà án Tp Hồ Chí Minh vừa tuyên với luật sư trần Quốc Hiền:
“Trong tư cách người điều hành Khối 8406, tôi kịch liệt phản đối phiên toà và bản án dành cho luật sư Trần Quốc Hiền. Từ Tết Định Hợi cho đến giờ nhà cầm quyền đã chỉa mũi dùi vào phong trào 8406. Cộng sản thấy khối là lực lượng quần chúng tập hợp được nhiều người nên rat ay đàn áp để răn đe. Nhưng càng răn đe thì chúng tôi càng quyết tâm hơn nữa.” Hiệp hội Đoàn kết Công nông Việt Nam
Ngoài việc tham gia khối 8406, luật sư Trần Quốc Hiền còn là phát ngôn nhân của Hiệp hội Đoàn kết Công nông Việt Nam. Đây cũng là tổ chức độc lập đại diện cho giới công nhân và nông dân đang bị áp bức trong nước.
Một trong những mục tiêu của hiệp hội là ủng hộ các cuộc khiếu kiện, biểu tỉnh chống bất công, tham nhũng đòi nhà cửa đất đai và tài sản của nông dân đã bị quan chức đảng Cộng sản chiếm đọat. Nhà cầm quyền Hà Nội cũng không công nhận điều đó như phát biểu của một nông dân từng phải mang đơn khi kiện và bị kết án:
“Nhà tôi chịu thiệt thòi nhiều, bị cắt ruộng phá nhà (ngay cả chồng tôi là thương binh); khi đi khiếu kiện thì họ lại bảo chống lại đảng, chính phủ.”
Một người dân khác tại Việt Nam nói lên ý kiến về bản án tuyên phạt những nhà đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền như luật sư Trần Quốc Hiền:
“Những bản án đó là tuyên với người vô tội, nhà nước dùng điều 88 để kết án những nguỡi thực thi những quyền mà hiến pháp qui định.
Điều đó là vi hiến. Hiến pháp là luật căn bản cao nhất, văn bản luật nào trái hiến pháp là vi hiến; như luật bầu cử thì dân 21 tuổi được quyền ứng cử; thế nhưng khi ra ứng cử phải qua hiệp thương của Mặt trận tổ quốc như thế là vi hiến.”
Sau phiên xử, nhiều chính phủ các nước cũng lên tiếng phản đối việc trừng phạt các nhà bất đồng chính kiến tại Việt Nam chỉ vì họ thực thi quyền tự do phát biểu tư tuởng môt cách ôn hoà.
Phía nhà cầm quyền Việt Nam thì một ngày trước phiên xử luật sư Trần Quốc Hiền lại đưa ra thông cáo lặp lại là ở Việt Nam không ai bị bắt vì chính kiến và tôn giáo, mà chỉ có những người vi phạm luật pháp Việt Nam mới bị trừng phạt. |
|
|
18 months ago saigon4eva |
|
-2 |


|
Những nàng Kiều nước Việt
Huy Phương
“Dặm dài nước thẳm non xa,
Biết đâu thân phận con ra thế này!”
(Truyện Kiều-Nguyễn Du)
Những nàng Kiều nước Việt ngày nay không phải bán mình để chuộc cha mà bán mình vì những hậu quả cả một chế độ để lại trên đôi vai gánh chịu nhọc nhằn của cả một dân tộc. Vì sao phải bán thân ra đi? Một gia đình nghèo khổ, người cha đã bỏ đi biệt mù, người mẹ chân yếu tay mềm, làm bánh bông lan hay cầm xấp vé số trên tay ra chợ, hằng ngày không đủ tiền mua gạo, mua áo cho con và nuôi con ăn học. Con đường cùng là đứa con gái lớn phải bỏ nước ra đi để tìm con đường sống trong con đường tăm tối, lầm than vô định. Vốn liếng của gia đình chỉ còn trông cậy vào tấm thân của đứa con gái, thời buổi này, có đứa con gái trong nhà, cũng có thể ngửa tay đi vay món nợ để “mai mốt qua bên đó, nó làm trả nợ lại!”
Ðứa con gái Việt Nam vị thành niên mới mười bốn tuổi, trước cuộc sống khốn cùng, ngặt nghèo muốn bán thân mình để đem chút lợi nhuận về đền đáp công ơn cha mẹ, phải làm giấy tờ giả khai thêm tuổi. Những thiếu phụ trôi giạt đến xứ người với lòng chân thật mong đem sức mình ra đổi lấy bát cơm no, đã bị cả một hệ thống chằng chịt từ trong nước ra ngoài bóc lột đến tận cùng xương tủy, kể cả dày vò thân xác họ. Những người ngoại quốc khác tiếng nói không có chút tình người đã đành, nhưng bọn cường quyền trong nước chính là những kẻ đồng lõa xô đẩy dân đen tới những con đường cụt, vô vọng. Ðã bao nhiêu người làm giàu qua những chuyến buôn người đang cười hí hửng vì hãnh diện lừa bịp xô đẩy được nhiều người, người ra đi càng nhiều, lợi nhuận càng cao. Bọn lái buôn chính quy và đồng lõa giương nanh vuốt cào xé nỗi đau của con người, hả hê trên rượu thịt, giàu sang và phủi tay không một chút tình người.
Thà như những tên da trắng thuộc địa săn bắt dân da đen Châu Phi, lùa xuống tàu để chở qua bán trên đất Hoa Kỳ trong thời kỳ nô lệ, không bạn ơi, ở đây hàng hàng lớp lớp người ta tình nguyện bỏ xóm bỏ làng, bỏ vợ bỏ chồng, bỏ bầy con thơ dại để tự nguyện làm nô lệ, người nô lệ Việt Nam. Trịnh Công Sơn ơi! Anh không còn sống để xem những “người nô lệ da vàng” hôm nay của chúng ta còn tệ hại hơn cả những thời nô lệ giặc Tàu giặc Tây như anh đã từng than khóc một thời cho dân tộc chúng ta.
Bây giờ đây đau mà không dám la, khổ mà vẫn phải cười, như nụ cười của chàng nông dân Johann Moritz trong “Giờ Thứ Hai Mươi Lăm” của Virgil Gheorghiu trên sân ga tỉnh lẻ. Người con gái thì lỡ bước, xót xa, khổ đau mà không dám hé môi nói lấy một lời để cho yên lòng cha mẹ, như nàng Kiều chỉ biết thở than: “Biết đâu thân phận con ra thế này”. Người thanh niên cơm không đủ no, gượng sống cho qua ngày vì nghĩ đến vợ con đang còn trông ngóng ở quê nhà, giấu kín tất cả buồn phiền, tất bật, nhận lấy khổ đau khép kín một mình. Cho nên buồn mà phải cười, đói mà phải chịu, lỡ bước ra đi rồi đành khóc hận.
Những gì mà người dân sản xuất không chỉ những nuôi đủ sống mà còn làm giàu cho giai cấp thống trị, còn dân đen muốn no ấm thì phải tự sản xuất lấy mình. Những người thanh niên trai trẻ vay một món nợ lớn để ra đi, mong kiếm được đồng lãi để đem về nuôi vợ con, nhưng bị lừa đảo, thân nô lệ không biết ngày nào mới thoát ra được. Những đứa con gái ruộng đồng, thoát cảnh nghèo đói triền miên bằng cách ra đi tới một phương trời xa lạ, ngôn ngữ bất đồng, tủi nhục kiếm đồng tiền bằng những con đường ở đợ hay bị lừa làm vợ một kẻ tật nguyền mà trước đó họ không hề nghĩ tới. Con đường trước mặt mịt mù mà vô định, con đường trở lại bị chắn lối vì những món nợ đã vay không bao giờ trả nổi!
Những nàng Kiều của nước Việt tôi ơi! Nàng Kiều trước khi thất thân với phường vô lại có còn được một lời thề nguyền, một chút tình yêu. Những nàng Kiều hôm nay chưa bao giờ có nệm ấm chăn êm, chưa có được một lời tỏ tình hay một mối tình để mang theo, hầu xoa dịu nỗi đau của riêng mình. Hãy nghe một cô gái nói: “Ðời em chưa hề nhận của ai một cánh hoa, dù là một cánh hoa dại”, những cô gái này bị đẩy vào đời quá sớm như con chim mới lớn đứng bên bờ tổ đã bị gió bão dập vùi.
Nàng Kiều của Nguyễn Du khởi đầu mười lăm năm lưu lạc chỉ có một Mã Giám Sinh và một Tú Bà, còn những nàng Kiều nước Việt chưa ra khỏi nhà đã có hàng chục Mã Giám Sinh và Tú Bà lấp ló ngoài cửa, đó là bọn trung gian, môi giới, cho vay cắt cổ và chính quyền bao che, ăn chia trên thân xác gầy còm của những thiếu nữ Việt Nam.
Từ nghìn xưa đến nay, kể cả những thời kỳ đất nước bị dày xéo vì ngoại xâm, danh dự người phụ nữ Việt Nam cũng chưa bao giờ tệ hại như hôm nay. Con người trong cuộc đã cảm thấy khổ đau tận cùng bởi cơn sóng số mệnh tai ương vùi dập, con người ngoài cuộc cảm thấy bất lực vì nỗi đau quá lớn của bà con ruột thịt, đồng bào, đồng loại đang vùng vẫy kêu la mà không làm gì được.
Khi con người ta không còn xúc động với nỗi khổ đau của đồng loại thì có khác chi loài cầm thú! Tôi xin cám ơn những người làm phim “Người Việt trên xứ Ðài”.v |
|
|
13 months ago binhthuy |
|
-2 |


|
có uỷ ban nhân dân là đủ rồi, làm chi mà thêm Quỷ cho hao tốn của nhân dân |
|
 | add your comment in Vietnamese |
| |
|